« Home « Kết quả tìm kiếm

Tống biệt hành – Thâm Tâm – Để học tốt Ngữ Văn 11


Tóm tắt Xem thử

- Thâm Tâm.
- Thâm Tâm tên khai sinh là Nguyễn Tuấn Trình, sinh tại thị xã Hải Dương (nay là thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương) trong một gia đình nhà giáo nghèo.
- Thâm Tâm viết không nhiều nhưng sáng tác nào cũng độc đáo, mang dấu ấn riêng.
- Thơ Thâm Tâm thường có giọng điệu trầm hùng, bi tráng.
- Tống biệt hành là bài thơ duy nhất của Thâm Tâm được hai nhà nghiên cứu Hoài Thanh và Hoài Chân chọn đưa vào Thi nhân Việt Nam - tuyển tập những tác phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ mới.
- Chỉ với một tác phẩm ấy thôi nhưng người ta không thể không nhắc đến Thâm Tâm khi nói về thơ mới.
- Bài thơ không chỉ có một âm điệu lạ, hình ảnh thơ độc đáo và cách thể hiện tâm trạng tinh tế mà còn có giá trị tư tưởng rất lớn.
- Giữa lúc lớp thanh niên trí thức đang rơi vào tâm trạng bế tắc, bi quan vì không xác định được con đường đi của mình thì Thâm Tâm lại xây dựng một hình tượng đẹp về người thanh niên đã tìm ra lí tưởng và quyết tâm vượt lên những tình cảm mềm yếu để ra đi thực hiện "chí nhớn"..
- Bài thơ chia làm bốn khổ và có sự xuất hiện hai nhân vật trữ tình : ta - người đưa tiễn và người - người ra đi.
- Tư thế và tâm trạng của người ra đi chủ yếu được thể hiện qua cảm nhận của người đưa tiễn.
- Hình tượng nghệ thuật xuyên suốt bài thơ là hình tượng người tráng sĩ.
- Đó là một tráng sĩ vừa có chí lớn với một quyết tâm ra đi thực hiện chí lớn rất cao, vừa có một tình cảm thương yêu sâu sắc với gia đình và bạn bè.
- Kết cấu của bài thơ cũng khá đặc biệt theo cảm nhận của chủ thể trữ tình - người đưa tiễn.
- Đoạn 1 : cảnh và tâm trạng cuộc chia tay..
- Đoạn 2 : chí nhớn và quyết tâm thực hiện chí nhổn của người ra đi..
- Đoạn 3 : tâm trạng và tình cảm của người ra đi đối với gia đình, người thân..
- Tất cả đều là cảm nhận của người đưa tiễn - bạn tri kỉ của người tráng sĩ ra đi..
- Đọc chậm, diễn tả nội tâm nhân vật trữ tình.
- II - KIẾN THỨC CƠ BẢNViết Tống biệt hành, Thâm Tâm đã tiếp thu thể tài của thơ cổ và thổi vào đó hơi thở nồng nàn của thời đại.
- Đồng thời qua bài thơ, Thâm Tâm đã thể hiện một tư tưởng tiến bộ và có ý nghĩa quan trọng đối với văn học đương thời.
- Bài thơ có bố cục ba đoạn, lần lượt miêu tả tâm trạng của người đưa tiễn trong giờ phút chia tay, tư thế của người ra đi và tình cảm của gia đình trước cuộc chia li.
- Điểm đặc biệt của bài thơ là mạch cảm xúc có sự lồng ghép cảm xúc của hai nhân vật trữ tình.
- Có một nhân vật trữ tình xuyên suốt bài thơ, đó là người đưa tiễn và tâm trạng, tư thế của người ra đi (chủ yếu được thể hiện qua cảm nhận của người đưa tiễn).
- Theo lời một số bạn cũ của Thâm Tâm, thì bài thơ được viết khi nhà thơ tiễn bạn lên chiến khu.
- Bài thơ đã thể hiện được một tư tưởng tiến bộ và hiện đại.
- Cấu tứ của bài thơ là chia tay và hồi tưởng, miêu tả tâm trạng để thể hiện lí tưởng..
- Vì vậy bao nỗi buồn của mẹ, của chị, của em, của người đưa, người tiễn, bao nỗi buồn của chiều hôm trước, của sáng hôm nay đều dồn tất cả trong khổ thơ này.
- Bao trùm bốn câu thơ không phải là cảnh mà là tâm trạng.
- Hai câu thơ đầu thể hiện không gian tâm trạng của cuộc đưa tiễn.
- Vì là không gian tâm trạng nên không gian mơ hồ, thiếu sự xác định cụ thể.
- Cuộc tiễn đưa không diễn ra bên bờ sông nhưng vẫn "có tiếng sóng" với hình ảnh ẩn dụ "sóng lòng", ở đây vừa tiếp nối ý thơ của người xưa vừa có những sáng tạo riêng đặc sắc.
- Đỗ Phủ khi tiễn bạn lên đường làm việc nghĩa, lòng người đi kẻ ở đầy thương nhớ cũng mượn hình ảnh dòng sông để thể hiện tâm trạng.
- Thâm Tâm chỉ mượn ý thơ của người xưa là chia li phải có dòng sông, có đôi bờ li biệt nhưng ở đây dòng sông được tạo nên bởi ảo giác chứ không phải sông thật nên sóng cũng là "sóng lòng".
- Tâm trạng của người trong cuộc tiễn đưa còn gợi lên từ nhạc điệu câu thơ, câu thơ mở dầu toàn thanh bằng, câu thơ thứ hai đột ngột nổi lên một số vần trắc "có tiếng sóng ở.
- Hai câu tiếp theo thể hiện tâm trạng của cuộc tiễn đưa.
- Thời gian cũng là thời gian tâm trạng nên vừa như xác định (bóng chiều) vừa như mơ hồ (không thắm không vàng vọt).
- Người ra đi là tự nguyện, ra đi vì lí tưởng đúng đắn nên không thể buồn ảo não, phải vui và hi vọng vì đã có được lí tưởng để hướng tới.
- Vừa vui, vừa buồn là tâm trạng chung của những cuộc chia tay có lí do tốt đẹp.
- Bốn khổ thơ đầu đã thể hiện một cách kín đáo nhưng đầy đủ về tính chất và chân thực về tâm trạng của cuộc đưa tiễn.
- Thơ cổ khi viết về cuộc chia tay thường mượn buổi chiều để thể hiện tâm trạng.
- Mượn tứ thơ xưa nhưng không phụ thuộc vào người xưa, Thâm Tâm vẫn có những sáng tạo riêng của mình.
- Sáng tạo đó là hình ảnh ẩn dụ "hoàng hôn trong mắt trong", là cách diễn đạt vừa cụ thể vừa lãng mạn hoá nỗi buồn chứa đầy trong tâm trạng.
- Và nếu "bóng chiều" nghiêng về sắc thái thời gian thì "hoàng hôn" lại nghiêng về sắc thái tâm trạng.
- Chữ đầy trong câu thơ "Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.
- Hình ảnh "đầy hoàng hôn trong mắt trong" gợi dáng vẻ bề ngoài cố làm như thản nhiên nhưng trong tâm trạng lại đầy uẩn khúc.
- -Li khách ! Li khách ! Con đường nhỏ,.
- Bài thơ có hai nhân vật là nhân vật "ta" tức là người đưa tiễn và người ở lại, nhân vật thứ hai là "người" tức là li khách, người lên đường vì "chí nhớn".
- Người ở lại được xem là hình tượng tác giả, là chữ ta trong toàn bài thơ.
- Hai nhân vật kẻ ở lại và người ra đi cùng tồn tại trong suốt bài thơ, vì thế khám phá tâm trạng li khách có mối quan hệ gắn bó mật thiết với tình cảm nhân vật "ta".
- Tác giả tập trung khắc hoạ hình tượng và tâm trạng li khách vì thế nhân vật càng ngày càng hiện lên cụ thể, sinh động, toàn vẹn.
- vẻ bề ngoài li khách tỏ ra dửng dưng lạnh lùng, gạt phăng những tình cảm riêng tư, kiên quyết dứt khoát lên đường, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, nhưng trong lòng thì đầy tâm sự.
- Nhưng đối lập với con người bên ngoài cố tỏ vẻ cứng cỏi lạnh lùng, trong lòng người li khách đầy dằn vặt, day dứt, lưu luyến đau khổ khi phải ra đi.
- Tâm sự đó được khéo léo thể hiện qua cảm nhận của người bạn tri âm.
- Thì ra nỗi buồn của li khách cũng dằng dặc theo thời gian, đó là nỗi lo lắng, thương yêu của người ra đi với gia đình.
- Hình ảnh so sánh "Một chị, hai chị cũng như sen - Khuyên nốt em trai dòng lệ sót" trong bài thơ đã gợi rất nhiều liên tưởng khác nhau.
- lo của người ra đi về hai người chị, vừa để nhấn mạnh sự níu giữ bằng mọi cách của người ruột thịt.
- Hai từ nốt trong bốn câu thơ như là hi vọng cuối cùng của người chị đối với người em.
- Họ muốn người em không ra đi hoàn toàn vì tình yêu thương, bởi lẽ họ chưa thể hiểu hết lí tưởng của người li khách.
- Li khách bị níu giữ từ mọi phía : mẹ già, hai chị yếu đuối tội nghiệp và cả đứa em nhỏ ngây thơ, họ đã can anh đến hết lời, họ đã khóc đến cạn nước mắt.
- Hình ảnh.
- như xoáy sâu vào trái tim người ra đi, hình ảnh em nhỏ ngây thơ là sự níu giữ mạnh nhất đối với người ra đi.
- Tác giả cố ý tô đậm sự níu giữ của người thân để bộc lộ mâu thuẫn giữa vẻ ngoài và tâm trạng bên trong của li khách.
- Tuy mâu thuẫn nhưng nhất quán, nhất quán ở chỗ tác giả vừa tô đậm chí nhớn vừa bộc lộ tình cảm sâu sắc của li khách, li khách càng bị níu giữ thì vẻ đẹp ý chí càng hiện rõ, li khách càng day dứt dằn vặt càng chửng tỏ bề sâu của tình cảm.
- Có thể nói, li khách là hình tượng của văn chương lãng mạn.
- về giọng điệu, nhân vật "ta.
- cái tôi trữ tình nhà thơ, người ở lại nói với người ra đi, nó khác hẳn lời người đi nói với người ở lại như Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu.
- Tống biệt hành có nhiều câu thơ là lời trực tiếp của người tiễn đưa.
- Nhưng lại có nhiều câu thơ chỉ mang tính chất chuyển đổi giữa người ở lại và người ra đi, khổ thơ cuối cùng cũng có sự chuyển đổi giọng điệu tài tình như vậy.
- Câu thơ "Người đi ? ừ nhỉ người đi thực.
- là giọng điệu người đưa tiễn.
- Cái hay là ở chỗ nó lột tả được hai mặt của cảm xúc : người đưa tiễn vừa cảm phục, ngưỡng mộ chí nhớn và quyết tâm lên đường của li khách nhưng mặt khác lại muốn níu kéo bạn ở lại.
- Trong sâu thẳm nhất của tình cảm, có lẽ người đưa tiễn thầm mong đến phút cuối cùng li khách sẽ thay đổi, sẽ nao núng ý chí, nhưng sự thật là li khách đã lên đường.
- Cho dù nhân vật "ta" đã biết rất rõ việc ra đi của bạn, đã theo dõi những trạng thái cảm xúc và ý chí quyết tâm của li khách "từ chiều hôm trước, sáng hôm nay" mà li khách lên đường vẫn không tránh khỏi bàng hoàng, hụt hẫng (ừ nhỉ ? Người đi thực.
- Cách hiểu thứ nhất cho rằng li khách quyết ra đi cho nên coi mẹ, chị, em của mình giống như chiếc lá, hạt bụi, hơi rượu để khỏi bị day dứt cõi lòng.
- Nhưng phần lớn ý kiến bác bỏ cách hiểu như trên và khẳng định đây là lời của li khách muốn nói với người thân xin hãy coi li khách như một cái gì hết sức nhỏ bé, vụt thoáng qua trong gia đình rồi biến mất để mà đừng có luyến tiếc đau khổ nữa.
- Nếu cho rằng li khách coi mẹ, chị, em của mình tựa như chiếc lá, hạt bụi, hơi rượu để tô đậm chí lớn và quyết tâm ra đi thì ở phần đầu bài thơ, ý nghĩa này đã được tô đậm rồi.
- Hơn nữa, nếu hiểu ý thơ theo cách thứ nhất sẽ làm nghèo nàn sắc thái thẩm mĩ của bài thơ.
- Hình ảnh li khách sẽ trở thành phi nhân tính và không thật, không nhất quán về tâm trạng và tình cảm.
- Mặt khác ba hình ảnh thơ "chiếc lá bay", "hạt bụi", "hơi rượu" đều mang tính chất chuyển động nên nó gần gũi tương đồng và gợi mối liên tưởng với người ra đi.
- Ta đã gặp hình ảnh thơ giống như vậy khi viết về người ra đi trong câu thơ của Nguyễn Bính.
- Bài thơ đã miêu tả thế rà đi của một tráng sĩ theo tinh thần thơ mới.
- Li khách là nhân vật của văn chương lãng mạn.
- Đó là con người phi thường nhưng không khác thường, chính những tình cảm đời thường (day dứt, dằn vặt, đau khổ) đã khiến cho li khách càng trở nên cao cả hơn.
- Thâm Tâm đã tạo nên một hình tượng đẹp và chân thực về con người qua Tống biệt hành.
- Và Thâm Tâm đã chứng minh rằng, phát triển có kế thừa truyền thống là một nguyên tắc sáng tác luôn luôn đúng đắn..
- Trong bài Lưu biệt, cuộc sống tù túng không thiếu những điều quyến rũ, níu giữ người ra đi : thơ và nhạc, “giọng đàn lưu luyến” và “tiếng cười”, “cố nhân”, “rượu xuân.
- Nhưng người ra đi vẫn quyết giã từ.
- Sự “dửng dưng” không thuộc bản tính của người ra đi.
- Phong cách bài thơ vừa gợi ra hơi hướng lãng mạn vừa tạo dáng cốt cách trượng phu ở nhân vật người ra đi.
- Nhưng người ra đi là ai ? Một đấng trượng phu có hơi hướng lãng mạn hay một người lãng mạn có dáng dấp trượng phu ? Tôi thiên về nhận định sau.
- Thâm Tâm trước sau là con người của phong trào Thơ mới.
- Người ra đi là một nhân vật lãng mạn, phần còn lại là văn chương, là cách điệu, là điệu bộ và “trò diễn ngồn từ”.
- “Đầy hoàng hôn trong mắt trong” là nét lãng mạn tuyệt vời ở nhân vật này.
- Nhưng “đầy hoàng hôn” trong mắt ai ? Lời trong bài thơ từ đầu chí cuối là lòi của người đưa tiễn, dù người ấy thầm nói với mình hay thầm nói với bạn, thầm nghĩ về mình hay thầm tưởng về bạn.
- Khổ kết thúc bài thơ.
- Với cách hiểu thứ nhất, có chút gì đó “nhẫn tâm”, “khinh bạc” ở người ra đi, điều này ở một “người đàn ông” xem ra có thể chấp nhận được.
- Đọc Tống biệt hành của Thâm Tâm có những cách hiểu rất khác nhau nhưng mọi người đều nhất trí đây là một bài thơ hay.
- Như thế là thế nào ? “Một sự kiện mà nhiều người biết là bài thơ, một mặt, có lớp ý nghĩa đầu tiên có thể dịch ra được bằng văn xuôi, mặt khác nó sống trong tâm trí người đọc một cuộc sống thứ hai, chính cuộc sống này xác định nó như là một bài thơ” (Merleau Ponty)..
- Cái cảm giác tức tưởi của bài thơ càng dồn xuống lại càng bật lên.
- Những yếu tố đó đã làm Tống biệt hành thành bài thơ hay và đầy vẻ lạ lùng so với các bài thơ cùng thời.