« Home « Kết quả tìm kiếm

Quá trình xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam


Tóm tắt Xem thử

- Quá trình xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam.
- Thị trường chứng khoán ( TTCK) chính thức, công khai ở Việt Nam hoạt động cho đến thời điểm hiện nay đã được gần 8 năm.
- Ở Việt Nam TTCK chính thức ra đời tương đối muộn - ngày 20/7/2000 bằng việc khai trương Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
- nảy nở” trong những điều kiện rất đặc biệt, đó là một hệ thống pháp luật tương đối đồ sộ điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của TTCK.
- Xuất phát từ Nghị định 75/1996/NĐ- CP về tổ chức và hoạt động của Uỷ Ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK, Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK (thay thế Nghị định 48) và hiện nay là Luật Chứng khoán năm 2006 đến hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành về chứng khoán, TTCK - là cơ sở pháp lý vững chắc cho sự vận hành và phát triển TTCK ở Việt Nam.
- Sự cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thị trường chứng khoán.
- Trong việc đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của TTCK, thì yếu tố đầu tiên là môi trường pháp lý, yếu tố thứ hai là hàng hoá trên thị trường và tiếp theo nữa là tình hình chính trị và sự hiểu biết của công chúng về chứng khoán [1].
- Có những nước ban hành văn bản pháp luật bao trùm lên các lĩnh vực của TTCK là Luật chứng khoán như ở Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc.
- Ngược lại, có những nước ban hành văn bản pháp luật đơn hành điều chỉnh một lĩnh vực nhất định của TTCK như Luật về giao dịch chứng khoán, Luật về bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư chứng khoán (như Mỹ, Trung Quốc.
- Cội nguồn của sự ra đời các văn bản này là xuất phát từ vai trò của chứng khoán, TTCK và vai trò của pháp luật đối với TTCK đối với sự phát triển của nền kinh tế cũng như nhu cầu quản lý nhà nước đối với thị trường này..
- Vai trò của TTCK: Hiện nay chúng ta không thể phủ nhận vai trò của thị trường.
- chứng khoán đối với sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia.
- TTCK phản ánh rõ nét nhất các qui luật của nền kinh tế thị trường..
- Sự tăng trưởng của nền kinh tế được đánh giá qua chỉ số giá chứng khoán của TTCK.
- Thông qua các công cụ cổ phiếu, trái phiếu, các loại chứng khoán khác, TTCK.
- những thị trường tiềm năng..
- TTCK khuyến khích người dân tiết kiệm để đầu tư vào sản xuất kinh doanh: Với việc mua bán chứng khoán dễ dàng trên TTCK (theo nguyên tắc ai có tiền có thể mua), nguồn tiền.
- Tâm lý của nhà đầu tư ai cũng biết là chỉ có nhu cầu mua chứng khoán của các doanh nghiệp làm ăn có lãi.
- TTCK buộc các doanh nghiệp phải công khai thông tin thường xuyên, tức thời, thông tin theo yêu cầu của Uỷ Ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN)..
- Có thể nói, TTCK là thị trường thông tin..
- Giá chứng khoán tăng biểu hiện doanh nghiệp phát hành chứng khoán đó làm ăn hiệu quả, ngược lại giá chứng khoán giảm chứng tỏ việc kinh doanh của doanh nghiệp không tốt, nếu doanh nghiệp không thay đổi chiến lược kinh doanh thì có thể dẫn tới hậu quả phá sản.
- Thiên chức của pháp luật là phải điều chỉnh các quan hệ trên thị trường sao cho đảm bảo được các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đặc biệt là vấn đề bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, tạo sự minh bạch trong hoạt động mua, bán chứng khoán, sự cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động kinh doanh chứng khoán của các công ty chứng khoán, trong hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán của các tổ chức niêm yết, trên cơ sở đó tạo đà cho sự phát triển của TTCK..
- Chính vì vậy, Nhà nước phải ban hành hệ thống pháp luật đồng bộ để điều chỉnh các hoạt động trên TTCK, nhằm hạn chế các hiện tượng tiêu cực nảy sinh trên thị trường này và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
- Ngoài ra, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chứng khoán cũng xuất phát từ kinh nghiệm phát triển TTCK ở các nước trên thế giới..
- Hay nói cách khác, luật pháp là một công cụ rất hữu hiệu có thể quyết định tới sự phát triển của thị trường chứng khoán ở mỗi nước.
- Trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển thị trường chứng khoán trên thế giới đã vắng bóng sự điều chỉnh của pháp luật cũng như các cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
- Thị trường hình thành một cách tự phát và được quản lý bởi các tổ chức tự quản như Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán.
- Chính vì vậy, để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán (đặc biệt chủ thể là người đầu tư), các nước có thị trường chứng khoán đã ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh TTCK và thiết lập cơ quan quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường này (1.
- Quốc hội Mỹ đã ban hành Luật chứng khoán năm 1933 và Luật giao dịch chứng khoán năm 1934..
- Bên cạnh đó, cũng cần nhấn mạnh rằng, nhu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về TTCK ở Việt Nam được lý giải bởi những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành về chứng khoán và thị trường chứng khoán..
- Vừa rồi chúng ta đã ban hành Luật chứng khoán..
- Luật chứng khoán ra đời đảm bảo tính tổng thể, tính ổn định trong các qui định liên quan đến chứng khoán và TTCK, bổ sung các qui định còn thiếu, khắc phục những qui định bất cập, kìm hãm sự phát triển của TTCK.
- TTCK ở Việt Nam chính thức ra đời vào năm 2000, tuy nhiên từ năm 1992, một bản đề án thiết lập Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã được Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình lên Ngân hàng Nhà nước.
- thị trường này.
- Nếu xem xét một cách hệ thống các văn bản pháp luật về TTCK thì có thể nhận thấy bao gồm rất nhiều loại khác nhau nhằm điều chỉnh các quan hệ gián tiếp hoặc trực tiếp liên quan đến tổ chức và hoạt động của TTCK, thể hiện ở các lĩnh vực: pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về hợp đồng, pháp luật về giải quyết tranh chấp, pháp luật về tổ chức và hoạt động của TTCK, về cơ quan quản lý Nhà nước đối với TTCK, về phát hành, về niêm yết, giao dịch, kinh doanh chứng khoán, về công ty chứng khoán, về địa vị pháp lý của nhà đầu tư chứng khoán.
- tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các loại hình doanh nghiệp, tạo tiền đề pháp lý vững chắc cho các thị trường phát triển (trong đó có TTCK)..
- Do vậy, ở hầu hết các nước, trong đó có Việt Nam đã thành lập cơ quan quản lý chuyên trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK.
- Điều này khẳng định sự quan tâm tích cực từ phía Nhà nước đối với loại thị trường hàng hoá đặc biệt này, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho sự ra đời TTCK ở Việt Nam.
- Tuy nhiên, theo Nghị định 66/2004/NĐ-CP ngày của Chính phủ về việc chuyển UBCKNN vào Bộ tài chính thì Ủy Ban chứng khoán (UBCK) không còn thẩm quyền này nữa, nhưng vẫn có quyền cấp phép, thu hồi các loại giấy phép về phát hành, kinh doanh chứng khoán..
- Tiếp theo Nghị định 75/CP là Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK.
- Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu phát triển của thị trường (ở Việt Nam lúc này mới có TTCK tự do, phi tập trung, TTCK trao tay) đây là một vấn đề nan giải mà Việt Nam chưa thể làm được.
- Chúng ta chưa có thực tế về hoạt động của TTCK, chưa có những chuyên gia giỏi về chứng khoán, người dân Việt Nam lúc đó cũng rất ít hiểu về TTCK, Quốc hội cũng chưa có cơ sở để thông qua Luật chứng khoán.
- Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh: mới chỉ quy định về thị trường giao dịch tập trung.
- và Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK), do vậy, trong hoạt động giám sát các công ty niêm yết sẽ không tránh khỏi có sự chồng chéo.
- các quy định về giao dịch trên TTGDCK không bao hàm đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của hoạt động giao dịch chứng khoán.
- Cơ chế để thực hiện giao dịch các loại chứng khoán phái sinh còn chưa được qui định hay nói cách khác, pháp luật về vấn đề này còn đang bị bỏ ngỏ, gây khó khăn cho các cổ đông và tổ chức phát hành khi có nhu cầu mua bán, chuyển nhượng công cụ tài chính này..
- Thứ hai, các qui định của pháp luật về điều kiện phát hành, điều kiện niêm yết chứng khoán chưa có sự tách bạch, rõ ràng..
- Thứ ba, giữa pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật về chứng khoán còn có sự chưa thống nhất, đồng bộ trong việc qui định về trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ giữa công ty cổ phần và cổ đông hiện hữu trong việc chuyển nhượng cổ phần.
- Do đó gây khó khăn cho doanh nghiệp và người đầu tư trong việc thực hiện các giao dịch về chứng khoán, đặc biệt là trên thị trường thứ cấp..
- Nhưng khi dẫn chiếu các văn bản pháp luật có liên quan lại không thấy có biện pháp xử lý vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán (ví dụ như Bộ Luật hình sự, Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính...)..
- Thứ sáu, pháp luật về chứng khoán và TTCK chưa qui định rõ thời điểm hình thành, chấm dứt quyền sở hữu chứng khoán và các quyền có liên quan đến chứng khoán, trong khi đó việc hoàn tất các thủ tục mua bán chứng khoán không được thực hiện ngay mà phải sau thời gian nhất định kể từ ngày khớp lệnh (T+3)..
- doanh chứng khoán phải thành lập các công ty chứng khoán độc lập và công ty này được UBCKNN cấp giấy phép thành lập.
- Tuy nhiên, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 lại chưa có qui định cho phép các tổ chức tín dụng được quyền (gián tiếp) kinh doanh chứng khoán.
- Sự không đồng bộ này đã phần nào gây khó khăn, cản trở hoạt động của các tổ chức tín dụng muốn tham gia kinh doanh chứng khoán..
- Xuất phát từ những hạn chế, bất cập chủ yếu nêu trên của Nghị định 48/1998/NĐ-CP nên Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày về chứng khoán và thị trường chứng khoán đã được ban hành (thay thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày .
- So với Nghị định 48, Nghị định 144 có phạm vi điều chỉnh tương đối rộng (liên quan đến sự mở rộng phạm vi quản lý đối với hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng;.
- qui định thủ tục đăng ký phát hành chứng khoán ra công chúng thay cho cơ chế cấp phép phát hành.
- phân định rõ điều kiện niêm yết và điều kiện phát hành chứng khoán.
- nới lỏng điều kiện niêm yết chứng khoán để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Nhà nước sau khi cổ phần hoá có thể niêm yết chứng khoán ngay.
- qui định bổ sung đối tượng phải công bố thông tin là công ty chứng khoán (bên cạnh các đối tượng là tổ chức niêm yết, công ty quản lý quĩ, và TTGDCK).
- bổ sung thêm loại hình Quỹ đầu tư chứng khoán bằng vốn góp của các thành viên.
- Việc ban hành Nghị định 144 đã đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của TTCK Việt Nam, là cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm cho thị trường hoạt động an toàn, công bằng, hiệu quả, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư.
- Theo quan điểm của chúng tôi, thì ở Việt Nam vào thời điểm cuối năm 2003 chỉ nên ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 48 là vừa đủ và năm 2006 sẽ ban hành Luật chứng khoán.
- Thêm vào đó, vấn đề phát hành và kinh doanh chứng khoán là những hoạt động có liên quan đến rất nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau..
- Do đó, khung pháp luật về chứng khoán và TTCK bao gồm những bộ phận cấu thành thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật có đặc trưng và cơ chế điều chỉnh khác nhau, trong đó có những qui định của cả pháp luật dân sự (liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán), pháp luật hành chính, hình sự (liên quan đến việc xử phạt vi phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK).
- Tham gia thị trường chủ yếu là các nhà đầu tư nhỏ lẻ, thiếu vắng các nhà đầu tư chuyên nghiệp, các công ty lớn, các nhà đầu tư có tổ chức như quỹ đầu tư, công ty đầu tư chứng khoán.
- nên ảnh hưởng đến tính ổn định của thị trường.
- Số lượng các công ty chứng khoán (CtyCK) tham gia hoạt động trên thị trường còn ít, tiềm lực tài chính hạn chế, trình độ của nhân viên tác nghiệp chưa mang tính chuyên nghiệp.
- TTCK hoạt động không minh bạch, mua bán chứng khoán thông qua các thông tin nội gián còn nhiều, nguyên tắc công khai chưa được tuân thủ một cách triệt để (Ví dụ trường hợp của Canfoco - Công ty cổ phần (CtyCP) Đồ hộp Hạ Long không công bố thông tin tức thời về việc gian lận hoàn thuế VAT, đã ảnh hưởng tới quyền lợi của Nhà đầu tư)..
- Cho đến cuối năm 2006, văn bản pháp lý cao nhất về chứng khoán và TTCK là Nghị định số 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ.
- Sau 6 năm vận hành cho thấy, hệ thống văn bản pháp luật về chứng khoán và TTCK đã bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ..
- Nghị định 144 mới chỉ điều chỉnh hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng của các CtyCP, không điều chỉnh việc phát hành cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, việc phát hành chứng khoán của các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) chuyển đổi thành CtyCP.
- Điều này làm hạn chế việc phát triển thị trường sơ cấp, đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trong việc phát hành chứng khoán ra công chúng..
- Nghị định 144 chỉ điều chỉnh hoạt động của TTGDCK tập trung (các TTGDCK),.
- không điều chỉnh hoạt động giao dịch chứng khoán phi tập trung.
- Điều này làm hạn chế việc phát triển thị trường thứ cấp.
- Mặt khác, các hoạt động giao dịch chứng khoán đang diễn ra khá sôi động trên thị trường tự do mà không có sự quản lý của Nhà nước..
- Do vậy, để khắc phục những bất cập của Nghị định 144 và điều chỉnh toàn diện hoạt động của TTCK, cũng như để tham gia WTO, Luật Chứng khoán đã được ban hành vào năm 2006, có hiệu lực từ 1/1/2007..
- Luật Chứng khoán tạo lập khuôn khổ pháp lý cao cho hoạt động của TTCK, loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan nhằm hoàn thiện mô hình hoạt động của thị trường và thúc đẩy TTCK phát triển..
- Luật Chứng khoán có phạm vi điều chỉnh rộng hơn cả về thị trường phát hành cũng như thị trường giao dịch, đồng thời điều chỉnh hoạt động của các thành viên thị trường nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý đầy đủ, đồng bộ, tạo điều kiện cho thị trường phát triển nhanh và ổn định, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khi tham gia kinh doanh, đầu tư vào TTCK..
- Về thị trường phát hành: Ngoại trừ việc chào bán trái phiếu chính phủ, chào bán trái phiếu của các tổ chức tài chính quốc tế được Chính phủ Việt Nam chấp thuận, chào bán cổ phiếu ra công chúng của các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành CtyCP, các tổ chức có đủ điều kiện phát hành chứng khoán ra công chúng phải đăng ký với UBCKNN và phải tuân thủ các quy định về việc chào bán chứng khoán ra công chúng.
- Quy định này sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong việc huy động vốn trên TTCK đồng thời cũng tạo ra những chuẩn mực cần thiết về chất lượng các chứng khoán khi phát hành trên TTCK..
- Chứng khoán đã mở rộng phạm vi thị trường, bao gồm TTCK tập trung và TTCK phi tập trung, theo đó sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK), TTGDCK, các CtyCK được cấp giấy phép được tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán.
- Điều này sẽ tạo điều kiện phát triển thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức đồng thời thu hẹp thị trường tự do, nâng cao tính thống nhất và đảm bảo nguyên tắc cơ bản của TTCK..
- Về các loại hình kinh doanh dịch vụ chứng khoán, Luật Chứng khoán đã bao trùm các hoạt động kinh doanh, dịch vụ chứng khoán như: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, lưu ký chứng khoán… Theo đó, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức kinh doanh chứng khoán này đã được quy định rõ ràng, tạo điều kiện cho các tổ chức trung gian trên TTCK có cơ hội phát triển và chính họ sẽ là người xây dựng và phát triển TTCK..
- Luật Chứng khoán tạo cơ sở pháp luật đầy đủ để tăng cường công tác quản lý thị trường nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các tổ chức tham gia thị trường.
- tạo cơ sở pháp lý để giám sát, cưỡng chế thực thi, đảm bảo các doanh nghiệp tham gia trên thị trường phải hoạt động công khai, minh bạch, từ đó góp phần làm minh bạch hóa nền kinh tế..
- vi vi phạm và chưa xác định rõ nguyên tắc xử phạt cũng như thẩm quyền xử phạt vi phạm trong hoạt động chứng khoán và TTCK.
- Luật Chứng khoán đã xác định rõ những nguyên tắc hoạt động của TTCK, xác định các hành vi bị cấm như gian lận và lừa đảo, giao dịch nội gián thao túng thị trường.
- Luật Chứng khoán đã xác định cơ quan trực tiếp quản lý TTCK là UBCKNN và có một điều riêng quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan này.
- Ngoài các chức năng nhiệm vụ của UBCKNN như hiện nay, Luật đã đề cập đến chức năng điều tra của UBCKNN trong việc thu thập các chứng cứ để kết luận vụ việc vi phạm về chứng khoán và TTCK, đồng thời quy định về thanh tra xử lý vi phạm.
- Thanh tra chứng khoán là thanh tra chuyên ngành thuộc bộ máy của UBCK, thanh tra có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán..
- Ngoài vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, Luật Chứng khoán đã đề cao vai trò của các tổ chức tự quản như Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK), TTGDCK.
- Thêm vào đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, đồng thời để đảm bảo cho thị trường hoạt động công khai minh bạch, Luật Chứng khoán đã có những quy định cụ thể về nghĩa vụ báo cáo và công bố thông tin của công ty đại chúng.
- Ngoài ra, Luật Chứng khoán được xây dựng phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế nhằm tạo điều kiện cho TTCK Việt Nam có khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc tế và khu vực, đặc biệt là đáp ứng được lộ trình thực hiện các cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới.
- Có thể nói, Luật Chứng khoán ra đời sẽ góp phần hoàn chỉnh thể chế về kinh tế thị trường ở Việt.
- Ngoài việc ban hành Luật Chứng khoán, các văn bản hướng dẫn thi hành cũng đã ra đời (đặc biệt là Nghị định 14/2007/NĐ- CP ngày 19/1/2007 qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán) đã tạo khung pháp lý đồng bộ thực thi Luật Chứng khoán.
- tính công khai, minh bạch của TTCK thông qua công bố thông tin được nâng cao, song chất lượng, nội dung, thời hạn công bố chưa đáp ứng cho yêu cầu quản lý và cung cấp thông tin cho thị trường, hệ thống cơ sở hạ tầng của các sàn giao dịch chứng khoán còn kém chất lượng, dẫn đến hiện tượng “sập sàn”, ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích của nhà đầu tư chứng khoán.
- Tuy nhiên, để pháp luật về TTCK đi vào cuộc sống thì đòi hỏi không chỉ đơn thuần hoàn thiện các vấn đề về mặt pháp lý, mà còn nhất thiết phải nâng cao nhận thức của người dân về chứng khoán và TTCK và gây dựng niềm tin của họ đối với TTCK.
- Giai đoạn II, Tạp chí Chứng khoán